Tôi đã chấm xong bài thi cuối kỳ môn Hàm suy rộng cho lớp K53A1T.
Nhìn chung điểm nằm trong khoảng từ 3 đến 6.
Có hai điểm 10 (trên 10), một điểm 9,5.
Tôi đã chấm xong bài thi cuối kỳ môn Hàm suy rộng cho lớp K53A1T.
Nhìn chung điểm nằm trong khoảng từ 3 đến 6.
Có hai điểm 10 (trên 10), một điểm 9,5.
Trên một trường số hay trên một đại số (chẳng hạn trường số thực , phức
, đại số các ma trận vuông thực hay phức, đại số các toán tử bị chặn trên không gian Banach thực hay phức) một trong các cách xây dựng hàm mũ là như sau:
+) với phép nhân (không nhất thiết giao hoán, như trong đại số các ma trận) ta định nghĩa được hàm lũy thừa:
(
lần)
+) với phép cộng ta định nghĩa được đa thức, tổ hợp tuyến tính của một số hữu hạn các hàm lũy thừa, trong đó có dạng đặc biệt:
+) qua phép lấy giới hạn ta thu được hàm mũ:
Việc chuyển qua giới hạn cho ta sự khác biệt về độ tăng ở vô cùng giữa hàm lũy thừa và hàm mũ:
với mọi
cố định.
Điều này thể hiện khá rõ trong các bài viết
“Hàm e^x và e^{1/x}”
và
“Hàm suy rộng tuần hoàn trên đường thẳng – Chuỗi Fourier”.
Trong bài “Hàm e^x và e^{1/x}” có hai sự kiện:
+ thứ nhất
-) không tồn tại với mọi
cố định,
-) ,
+ thứ hai
-) không tồn tại với mọi
cố định,
-) .
Còn trong bài “Hàm suy rộng tuần hoàn trên đường thẳng – Chuỗi Fourier” thể hiện
chuỗi Fourier
hội tụ trong
khi và chỉ khi
với
là số thực nào đó, nghĩa là
có một số dương và số thực
để
với mọi
Điều này tương đương với:
chuỗi
hội tụ trong
khi và chỉ khi
với
là số thực nào đó.
Sự kiện này nói rằng tốc độ tăng của cỡ đa thức (thấp hơn cỡ mũ)! Điều này cũng thể hiện ở tên gọi của
: “hàm suy rộng tăng chậm”.
Để chứng minh sự kiện này có một cách sử dụng sự kiện thứ nhất trong bài “Hàm e^x và e^{1/x}”.
Một sự kiện khác cũng liên quan đến sự chuyển biến từ hàm lũy thừa sang hàm mũ. Sự kiện này liên quan đến hàm khả vi vô hạn. Như đã biết hàm khả vi vô hạn thì ta có thể lập chuỗi Taylor, chẳng hạn tại
:
Tuy nhiên, có hai câu hỏi đặt ra:
+) chuỗi Taylor có hội tụ không?
+) chuỗi Taylor hội tụ thì có hội tụ đến hàm
(dĩ nhiên tính ngoài điểm
)?
Hàm được gọi là giải tích tại
nếu chuỗi Taylor
hội tụ đến hàm
trong một lân cận của điểm
.
Hàm khi
và
là hàm khả vi vô hạn và không giải tích tại
Hàm này liên quan đến nhiều sự kiện, chẳng hạn hàm khả vi vô hạn có giá compact. Tuy nhiên, dưới đây tôi muốn nói đến sự kiện khác:
“Tính giải được địa phương của toán tử vi phân”.
Ta quan tâm đến toán tử vi phân trong
Toán tử vi phân được gọi là giải được địa phương tại
nếu có một tập mở
chứa
để
với bất kỳ hàm đều có hàm suy rộng
sao cho
theo nghĩa suy rộng trong
Toán tử vi phân với hệ số hằng là toán tử giải được địa phương.
Toán tử vi phân elliptic cũng giải được địa phương.
Năm 1956, Hans Lewy tìm thấy toán tử đầu tiên không giải được địa phương trong
Lars Hormander tìm ra điều kiện cần cho tính giải được địa phương:
Nếu giải được địa phương tại
thì với mọi thỏa mãn
ta có
,
trong đó
Các bạn thử kiểm tra điều kiện cần của Hormander cho toán tử Lewy.
Toán tử đơn giản nhất không giải được địa phương là toán tử Mizohata trong mặt phẳng
không thỏa mãn điều kiện cần của Hormander tại các điểm trên đường thẳng .
Lưu ý hệ số của các toán tử trên đều là đa thức.
Louis Nirenberg và Francois Treves tiếp tục quan sát toán tử trong mặt phẳng
Khi điều kiện cần của Hormander không còn hiệu nghiệm.
Cùng với cách nhìn của Hormander nhưng tinh tế hơn, Nirenberg và Treves tách toán tử thành hai phần thực và ảo:
.
Tiếp đến xét chuỗi các toán tử:
.
Bạn đọc tính toán lại xem có phải
khi
,
khi
.
Đặt là số
bé nhất để
Từ đó rút ra:
+) là số chẵn (kể cả
) thì
(trường hợp elliptic) giải được địa phương,
+) là số lẻ thì
không giải được địa phương.
Cách làm này cũng bị mắc khi Nirenberg và Treves xem xét toán tử
.
Vướng mắc này giúp hai ông đưa ra giả thuyết về tính giải được địa phương Nirenberg-Treves.
Bạn đọc có thể xem chi tiết hơn ở bài báo sau của Francois Treves
Hàm số được gọi là hàm tuần hoàn chu kỳ
nếu
Khi đó, hàm có chuỗi Fourier tương ứng
trong đó (được gọi là hệ số Fourier).
Chuỗi Fourier này sẽ hội tụ điểm đến hàm khi hàm đủ tốt! (Nói đủ tốt ở đây là cần thiết vì nếu chỉ liên tục thì Paul du Bois Reymond đã chỉ ra phản ví dụ vào năm 1873. Vào những năm 1920 Nikolai Luzin đã đưa ra giả thuyết rằng chuỗi Fourier sẽ hội tụ hầu khắp nơi. Gần nửa thế kỷ sau, năm 1966, Lennart Carleson mới chứng minh được giả thuyết này. Bạn đọc có thể tham khảo thêm ở trang
http://en.wikipedia.org/wiki/Convergence_of_Fourier_series.)
Hàm số có biến là số thực, hàm suy rộng có biến là hàm số. Ở đây nảy sinh câu hỏi:
thế nào là hàm suy rộng tuần hoàn?
Trước hết, ta hình dung lại hàm tuần hoàn qua cách hiểu hình ảnh:
hàm tuần hoàn chu kỳ là hàm mà đồ thị của nó không thay đổi khi ta dịch chuyển nó một véc-tơ song song với trục hoành có độ dài
.
Để định nghĩa hàm suy rộng tuần hoàn ta trước hết định nghĩa phép dịch chuyển (như trong cuốn “Generalized functions” của R. P. Kanwal).
Cho hàm suy rộng và số thực
Ta định nghĩa phép dịch chuyển
như sau:
Nếu là hàm thông thường thì nó cũng được hiểu là hàm suy rộng, một cách tự nhiên, bởi công thức tích phân. Khi đó phép dịch chuyển
cho ta một hàm suy rộng mà về bản chất nó cũng là hàm thông thường
Nếu (hàm Dirac) thì qua phép dịch chuyển
có hàm suy rộng
được ký hiệu hay
Phép dịch chuyển là một đẳng cấu (tuyến tính+liên tục) trên
với nghịch đảo
Hơn nữa
lập thành một nhóm nhân
với phép nhân là phép hợp thành
với đơn vị
Bây giờ ta có thể định nghĩa hàm suy rộng có chu kỳ
như sau:
theo nghĩa suy rộng
nghĩa là
Từ tính chất nhóm của các toán tử dịch chuyển
nếu có để
thì hay
là hàm suy rộng tuần hoàn chu kỳ
Hàm thông thường tuần hoàn khi được hiểu theo nghĩa suy rộng cũng là hàm tuần hoàn theo nghĩa suy rộng. Chẳng hạn các hàm hay hàm suy rộng dạng
với
, với
nào đó, khi
Dưới đây tôi sẽ chỉ ra rằng bất kỳ hàm suy rộng có chu kỳ đều có dạng trên.
Hàm Dirac là hàm suy rộng không tuần hoàn vì nói chung với
ta không có
với
cố định.
Tuy nhiên ta lại có mối quan hệ mật thiết giữa hàm tuần hoàn và hàm Dirac qua phép biến đổi Fourier. Cụ thể như sau
nên
Vấn đề tiếp theo là định nghĩa chuỗi Fourier của hàm suy rộng tuần hoàn chu kỳ . Ta vấp phải vài khó khăn:
-) thế nào là ?
-) trong khi ta chỉ có (có thể hiểu
),
-) và có giá compact còn
có giá là toàn bộ đường thẳng
Lưu ý là hàm suy rộng tuần hoàn nên ta có thể chuyển “tích phân” trên toàn đường thẳng
thành tổng của đếm được các tích phân trên cùng một chu kỳ bằng cách phân rã đường thẳng thành các chu kỳ con rồi tổng hợp lại. Như vậy, ta cẩn một phân hoạch đặc biệt. Tôi dùng phân hoạch như trong cách trình bày của M. J. Lighthill (trang 69 cuốn “Introduction to Fourier Analysis and Generalised Functions”). Bạn đọc có thể lấy cuốn sách theo đường link
http://ifile.it/2slwzu
Bạn đọc cũng có thể tìm thấy phân hoạch này trong Luận văn Thạc sỹ của Phạm Vân Hà
(http://datuan5pdes.wordpress.com/2011/03/16/lu%E1%BA%ADn-van-cao-h%E1%BB%8Dc-c%E1%BB%A7a-ph%E1%BA%A1m-van-ha/).
Để đơn giản ký hiệu ta giả sử hàm suy rộng tuần hoàn với chu kỳ
Khi đó ta sử dụng phân hoạch đơn vị như trong luận văn của Phạm Vân Hà:
nghĩa là:
+)
+)
+)
Khi đó, nếu tuần hoàn chu kỳ
thì hệ số Fourier của nó
(đổi biến
)
(các hàm
tuần hoàn chu kỳ
)
Lưu ý, lúc này
và
Lúc này ta có thể định nghĩa chuỗi Fourier cho hàm suy rộng tuần hoàn với chu kỳ
như sau
với hệ số Fourier
.
Nếu thì từ đẳng thức Paserval có
chuỗi Fourier
hội tụ đến trong
Từ đó, do tính tuần hoàn sự hội tụ trên dẫn đến hội tụ trong . Bạn đọc tự làm chi tiết nhé!
Trong trường hợp là hàm suy rộng tuần hoàn chu kỳ
ta cũng có
chuỗi Fourier
hội tụ đến trong
,
nghĩa là
Chứng minh chi tiết điều này bạn đọc có thể xem trong cuốn sách của Lighthill mà tôi giới thiệu ở trên (hay dùng gợi ý: sử dụng đẳng thức Poisson). Trong cuốn sách cũng chứng minh hệ số , với
nào đó, khi
Biến đổi Fourier của hàm suy rộng tuần hoàn chu kỳ là
Ngày 16/12/2011, bạn Thảo (K53A1T) đã đưa ra lời giải đáp cho bài
Bạn đã dùng ra dãy
Dãy trên có tính chất:
+)
+) (không phụ thuộc
).
Dãy được xác định như trên khác so với dãy
được xây dựng trong phản hồi trả lời thắc mắc của bạn Trường ở trang
http://datuan5pdes.wordpress.com/2011/09/06/trao-d%E1%BB%95i-bai-gi%E1%BA%A3ng-l%E1%BB%9Bp-k53a1t/
Sự khác biệt nằm ở hệ số và
Bạn đọc thử tự đưa ra giải thích chi tiết.
Một bài kiểu như trên cũng được ra cho lớp K53A1T:
không có hàm suy rộng nào để
khi
hay
cũng được giải kiểu như bài trên.
Cụ thể ta chọn dãy như sau:
Bạn đọc thử tự chứng minh
+)
+)
Cũng giống bài trước nếu chỉ dùng hệ số thì
Các bạn thử giải thích chi tiết xem.
Trong giáo trình cho sinh viên năm thứ 4 ngành Toán, tôi mới đưa ra khái niệm hội tụ trong các không gian hàm mà chưa đưa ra khái niệm tô-pô trong đó. Để đưa ra khái niệm này ta chỉ cần đưa ra cơ sở các tập mở chứa gốc từ đó lấy giao hữu hạn hay hợp vô hạn các tập này ta được tất cả các tập mở chứa gốc và dùng phép dịch chuyển ta được tất cả các tập mở.
Đầu tiên ta xây dựng cơ sở các tập mở cho không gian hàm cơ bản là tập mở trong
Ta phân tích
trong đó, là các tập mở bị chặn.
Chẳng hạn khi thì
là các hình cầu mở tâm tại gốc bán kính
Hoặc khi thì
Với mỗi cặp dãy thỏa mãn:
+) giảm dần về
+) tăng dần ra
ta đặt là tập các hàm
thỏa mãn
Tập các với các cặp
khác nhau lập thành cơ sở lân cận tại gốc của
Khi đó nếu
với mỗi cặp đều có
để
hay
Việc chứng minh định nghĩa về sự hội tụ trên tương đương với định nghĩa trong giáo trình, cụ thể:
-) có một tập compact để
-)
xin được dành cho bạn đọc.
Lúc này có thể nói thế nào là tập bị chặn trong
Trước hết, một cách tổng quát, tập trong không gian véc-tơ tô-pô
với cơ sở tập mở là các tập
là tập bị chặn nếu với mỗi có một số dương
để
Tập là tập bị chặn nếu
với mỗi cặp đều có số dương
để
Ta cũng có cách định nghĩa khác tương đương như sau.
Tập là tập bị chặn nếu
-) có một tập compact để
-) có một dãy số dương, tăng để
Trong không gian định chuẩn vô hạn chiều, hình cầu đóng không là tập compact nên tập bị chặn nói chung không compact tương đối. Với không gian lại khác. Từ Định lý Azela – Ascoli, tập bị chặn trong
là tập compact tương đối.
Bạn đọc thử tự xây dựng cơ sở tập mở và tập bị chặn cho các không gian
Tôi đã chấm xong bài thi của lớp K53A1T.
Nhìn chung điểm dải từ 2 đến 8. Duy nhất có một bài của cậu Phạm Văn Thắng được 10 điểm.
Lớp K53A1T sẽ thi giữa kỳ môn Hàm suy rộng
từ 13h00 đến 13h50
thứ Ba, ngày 08/11/2011
tại phòng 104T4.
Vậy tôi nhờ lớp trưởng lớp K53A1T thông báo giúp tôi về thời gian thi.
ĐATuấn
Năm 1884, Joseph Liouville, là người đầu tiên, đưa ra một lớp các số siêu việt mà sau này chúng ta gọi là số Liouville. Số siêu việt là số không đại số. Số đại số là gì các bạn có thể xem
http://bomongiaitich.wordpress.com/2011/10/26/s%E1%BB%91-vo-t%E1%BB%B7-s%E1%BB%91-d%E1%BA%A1i-s%E1%BB%91-s%E1%BB%91-sieu-vi%E1%BB%87t/
Nếu số vô tỷ là số đại số thì Liouville đã chứng tỏ một kết quả sâu sắc:
có một số tự nhiên có một số dương
để với bất kỳ các số nguyên
Liouville xây dựng lớp số Liouville là các số thực thỏa mãn
với bất kỳ số tự nhiên đều có các số nguyên
Bạn đọc có thể dễ dàng chứng minh số
là số Liouville.
Số Liouville không phải số đại số. Tuy nhiên số không Liouville vẫn có thể là số siêu việt!
Bạn đọc có thể xem
http://en.wikipedia.org/wiki/Liouville_number
Trong phần tiếp theo tôi không cố gắng tìm số siêu việt không là số Liouville mà tôi đưa ra một số tính chất thú vị của số không Liouville.
Số thực là không Liouville nếu
có một số tự nhiên có một số dương
để với bất kỳ các số nguyên
Trong trường hợp là số vô tỷ thì
Tính chất thứ nhất:
Số vô tỷ là số không Liouville khi và chỉ khi
có hai số dương sao cho với mọi số nguyên
Trước hết ta CM điều kiện cần, nghĩa là giả sử có và phải CM
Với từ
ta có
Với thì với
từ
ta có
Với có
với
Với có
Chọn ta có
Ta chứng minh nốt điều kiện đủ: nghĩa là giả sử có ta cần chứng minh
Với thỏa mãn
thì
với
Khi đó, từ có
Với thỏa mãn
thì
Chọn ta có
Từ tính chất S. J. Greenfield & N. R. Wallach đã dẫn đến điều kiện cần và đủ cho tính hypoelliptic của toán tử vi phân trên xuyến
trong đó
là số vô tỷ,
là không Liouville.
Ta thử xem tính hypoelliptic ở đây là gì?
Có lẽ nó bắt nguồn từ tính chất của toán tử elliptic:
Cho là toán tử vi phân elliptic trên xuyến
,
. Khi đó, nếu
thì
Với là số phức với phần ảo khác không ta có toán tử
là elliptic cấp
nghĩa là
có một hằng số sao cho với bất kỳ
Người ta đã lấy tính chất trên của toán tử elliptic làm định nghĩa cho khái niệm hypoelliptic. Cụ thể như sau.
Toán tử vi phân trên xuyến
được gọi là hypoelliptic nều
với
suy ra
Để chứng minh kết quả thú vị:
“Toán tử vi phân là số vô tỷ, là hypoelliptic
khi và chỉ khi
là số không Liouville.”
S. J. Greenfield & N. R. Wallach, trong bài báo
sử dụng hai kết quả sau
-) Cho Khi đó,
khi và chỉ khi
với mỗi số nguyên đều có số dương
để
-) Toán tử vi phân trên xuyến
là hypoelliptic khi và chỉ khi
có các số dương để
khi
đủ lớn.
Sau này, A. A. Himonas và một số nhà Toán học khác phát triển tiếp lên cho trường hợp nhiều chiều, và toán tử vi phân với hệ số biến thiên. Bạn đọc có thể tham khảo bài báo sau của Himonas
Kết quả liên quan đến tính hypoelliptic tôi được biết đến nhờ Luận văn Cao học dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Minh Trí, Viện Toán học.
Tính chất 1 của số vô tỷ không Liouville liên quan đến tính hypoelliptic của toán tử vi phân trên xuyến. Tính chất 2 của số vô tỷ không Liouville lại liên quan đến ideal sinh bởi hai hàm nguyên (hàm chỉnh hình trên toàn mặt phẳng phức) đặc biệt trong vành các hàm nguyên thỏa mãn:
trong đó là các hằng số dương nào đó.
Vành theo Định lý Paley – Wiener – Schwartz, chính là ảnh của
qua phép biến đổi Fourier.
Vậy tính chất 2 cụ thể là gì?
Tính chất 2:
Số vô tỷ là số không Liouville
khi và chỉ khi
có các số dương sao cho với mọi số nguyên khác không
Chứng minh tính chất này người ta dựa vào bất đẳng thức cơ bản sau:
trong đó (khoảng cách từ
đến số nguyên gần nhất).
(Bạn đọc thử tự chứng minh với gợi ý: và hàm
là hàm liên tục, khác
trên
.)
Ta CM điều kiện cần trước: nghĩa là giả sử có cần chứng minh
Lấy
TH1: từ
có
nên
TH2: ta đặt
từ TH1 ta cũng có
TH3: có
trong đó
Do đó
Từ
và kết quả của các TH trên ta chọn ta có
Ta CM điều kiện đủ: giả sử có ta CM
Điều này khá hiển nhiên dựa vào
Từ tính chất E. K. Petersen & G. H. Meisters đã đưa ra kết quả thú vị, trong bài báo
như sau.
Với đặt
là các hàm nguyên thuộc vành
Khi đó ideal sinh bởi trùng với
khi và chỉ khi
là số vô tỷ, không Liouville.
Để có kết quả này, E. K. Petersen & G. H. Meisters đã sử dụng kết quả sau của L. Hormander:
Ideal sinh bởi trùng với
khi và chỉ khi
có các số dương để với mọi số phức
Tôi đã thông báo trên lớp sẽ tổ chức thi giữa kỳ môn Hàm suy rộng cho lớp K53A1T vào ngày 08/11/2011.
Nội dung thi gồm:
- các bài tập tính toán và bài tập lý thuyết về các không gian
- đặc biệt các bài kiểm tra hàm suy rộng, tính giá, tính cấp, tính đạo hàm suy rộng, tính nguyên hàm suy rộng, kiểm tra sự hội tụ.
Thời gian thi 50 phút.
Tôi quên chưa hỏi lớp:
Tách ra làm hai nhóm thi vào hai giờ khác nhau
hay thi cùng lúc nhưng với vài ba đề thi khác nhau?
Trong trường hợp tách ra làm hai nhóm thi hai giờ khác nhau thì tôi nhờ lớp trưởng lớp K53A1T chia nhóm giúp tôi. Thời gian thi cụ thể:
Nhóm 1: 13h00- 13h50, ngày 08/11/2011,
Nhóm 2: 14h00-14h50, ngày 08/11/2011.
Trong trường hợp thi cùng một lúc thì thời gian thi cụ thể:
13h00- 13h50, ngày 08/11/2011.
ĐATuấn
TB. Tuần sau, ngày 01/11/2011, tôi sẽ chữa bài tập và dùng để lấy điểm thường xuyên. Rất mong các bạn tích cực làm bài và chữa bài. Đặc biệt các bạn học lại.
Trong phần giới thiệu về nguồn gốc hàm suy rộng, hàm Dirac là một ví dụ điển hình và cũng là một trong những lý do chính để các nhà Toán học đưa ra khái niệm hàm suy rộng. Một trong những cách hàm Dirac xuất hiện là “đạo hàm” hàm Heavisde (hàm số được định nghĩa tại từng điểm)! Trong phần tiếp của bài này tôi sẽ chỉ ra đây chính là cách tạo ra bất kỳ hàm suy rộng nào, một cách địa phương! Cụ thể, bất kỳ một hàm suy rộng nào, trên từng tập compact, nó đều được sinh ra bằng cách đạo hàm suy rộng một số hữu hạn lần hàm thông thường!
Để đỡ phức tạp, tôi chỉ đưa ra chứng minh cho trường hợp một chiều. Chứng minh trong trường hợp nhiều chiều bạn đọc có thể tham khảo cuốn sách
“Methods of the Theory of Generalized Functions” của V. S. Vladimirov (trang 35).
Đường link
http://www.box.net/shared/84znrjg2o9a1s1zjrbf1
Trong trường hợp một chiều ta có thể phát biểu một cách khác:
Trên từng compact, sau khi lấy nguyên hàm suy rộng một số hữu hạn lần một hàm suy rộng ta sẽ thu được hàm thông thường!
Ta đi vào chứng minh chi tiết. Lấy Khi đó, ta sẽ chỉ ra rằng có một hàm
sao cho sau khi đạo hàm suy rộng một số hữu hạn lần hàm
ta được hàm
Một số hữu hạn lần ở đây không gì khác chính là cấp của hàm suy rộng
trên đoạn
cộng với
Bạn đọc có thể thấy khá rõ kết quả này từ hàm Dirac.
Như đã biết trên mỗi đoạn hàm suy rộng
có cấp hữu hạn, ký hiệu
Khi đó
Với hàm hàm khả vi vô hạn xác định trên
có giá nằm trong
ta có bất đẳng thức Poincare:
Bất đẳng thức này được chứng minh dễ dàng từ đẳng thức:
và lưu ý
Cứ như vậy, bất đẳng thức tương đương với bất đẳng thức
Cũng tương tự như cách chứng minh bất đẳng thức Poincare, từ ta có:
Ký hiệu là không gian tuyến tính con của không gian
Khi đó, từ áp dụng Định lý Hahn – Banach (xem http://en.wikipedia.org/wiki/Hahn%E2%80%93Banach_theorem), ta có thể thác triển ánh xạ:
thành một phiếm hàm tuyến tính liên tục
Khi đó theo Định lý biểu diễn F. Riesz, sẽ có một hàm để
Khi đó, với ta có
Do đó trên
Đặt Bạn đọc thử chứng minh hai điều sau:
(-)
(-) đạo hàm suy rộng của trên
chính là
nghĩa là
Bạn đọc thử trả lời câu hỏi:
Liệu có thể thay từ “địa phương” bằng “toàn cục”?
Phản hồi gần đây