Từ hàm lũy thừa đến hàm mũ
Trên một trường số hay trên một đại số (chẳng hạn trường số thực , phức
, đại số các ma trận vuông thực hay phức, đại số các toán tử bị chặn trên không gian Banach thực hay phức) một trong các cách xây dựng hàm mũ là như sau:
+) với phép nhân (không nhất thiết giao hoán, như trong đại số các ma trận) ta định nghĩa được hàm lũy thừa:
(
lần)
+) với phép cộng ta định nghĩa được đa thức, tổ hợp tuyến tính của một số hữu hạn các hàm lũy thừa, trong đó có dạng đặc biệt:
+) qua phép lấy giới hạn ta thu được hàm mũ:
Việc chuyển qua giới hạn cho ta sự khác biệt về độ tăng ở vô cùng giữa hàm lũy thừa và hàm mũ:
với mọi
cố định.
Điều này thể hiện khá rõ trong các bài viết
“Hàm e^x và e^{1/x}”
và
“Hàm suy rộng tuần hoàn trên đường thẳng – Chuỗi Fourier”.
Trong bài “Hàm e^x và e^{1/x}” có hai sự kiện:
+ thứ nhất
-) không tồn tại với mọi
cố định,
-) ,
+ thứ hai
-) không tồn tại với mọi
cố định,
-) .
Còn trong bài “Hàm suy rộng tuần hoàn trên đường thẳng – Chuỗi Fourier” thể hiện
chuỗi Fourier
hội tụ trong
khi và chỉ khi
với
là số thực nào đó, nghĩa là
có một số dương và số thực
để
với mọi
Điều này tương đương với:
chuỗi
hội tụ trong
khi và chỉ khi
với
là số thực nào đó.
Sự kiện này nói rằng tốc độ tăng của cỡ đa thức (thấp hơn cỡ mũ)! Điều này cũng thể hiện ở tên gọi của
: “hàm suy rộng tăng chậm”.
Để chứng minh sự kiện này có một cách sử dụng sự kiện thứ nhất trong bài “Hàm e^x và e^{1/x}”.
Một sự kiện khác cũng liên quan đến sự chuyển biến từ hàm lũy thừa sang hàm mũ. Sự kiện này liên quan đến hàm khả vi vô hạn. Như đã biết hàm khả vi vô hạn thì ta có thể lập chuỗi Taylor, chẳng hạn tại
:
Tuy nhiên, có hai câu hỏi đặt ra:
+) chuỗi Taylor có hội tụ không?
+) chuỗi Taylor hội tụ thì có hội tụ đến hàm
(dĩ nhiên tính ngoài điểm
)?
Hàm được gọi là giải tích tại
nếu chuỗi Taylor
hội tụ đến hàm
trong một lân cận của điểm
.
Hàm khi
và
là hàm khả vi vô hạn và không giải tích tại
Hàm này liên quan đến nhiều sự kiện, chẳng hạn hàm khả vi vô hạn có giá compact. Tuy nhiên, dưới đây tôi muốn nói đến sự kiện khác:
“Tính giải được địa phương của toán tử vi phân”.
Ta quan tâm đến toán tử vi phân trong
Toán tử vi phân được gọi là giải được địa phương tại
nếu có một tập mở
chứa
để
với bất kỳ hàm đều có hàm suy rộng
sao cho
theo nghĩa suy rộng trong
Toán tử vi phân với hệ số hằng là toán tử giải được địa phương.
Toán tử vi phân elliptic cũng giải được địa phương.
Năm 1956, Hans Lewy tìm thấy toán tử đầu tiên không giải được địa phương trong
Lars Hormander tìm ra điều kiện cần cho tính giải được địa phương:
Nếu giải được địa phương tại
thì với mọi thỏa mãn
ta có
,
trong đó
Các bạn thử kiểm tra điều kiện cần của Hormander cho toán tử Lewy.
Toán tử đơn giản nhất không giải được địa phương là toán tử Mizohata trong mặt phẳng
không thỏa mãn điều kiện cần của Hormander tại các điểm trên đường thẳng .
Lưu ý hệ số của các toán tử trên đều là đa thức.
Louis Nirenberg và Francois Treves tiếp tục quan sát toán tử trong mặt phẳng
Khi điều kiện cần của Hormander không còn hiệu nghiệm.
Cùng với cách nhìn của Hormander nhưng tinh tế hơn, Nirenberg và Treves tách toán tử thành hai phần thực và ảo:
.
Tiếp đến xét chuỗi các toán tử:
.
Bạn đọc tính toán lại xem có phải
khi
,
khi
.
Đặt là số
bé nhất để
Từ đó rút ra:
+) là số chẵn (kể cả
) thì
(trường hợp elliptic) giải được địa phương,
+) là số lẻ thì
không giải được địa phương.
Cách làm này cũng bị mắc khi Nirenberg và Treves xem xét toán tử
.
Vướng mắc này giúp hai ông đưa ra giả thuyết về tính giải được địa phương Nirenberg-Treves.
Bạn đọc có thể xem chi tiết hơn ở bài báo sau của Francois Treves
Explore posts in the same categories: Tham khảo